Đất nước "Của dân – Do dân – Vì dân"

Archive for the ‘An ninh quốc phòng’ Category

Gallery

Khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

(ĐCSVN) – Việt Nam có đầy đủ căn cứ khoa học, lịch sử và pháp lý chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đó là một luận điểm được nêu trong cuốn sách chuyên khảo “Thềm lục địa trong pháp luật quốc tế” do PGS. TS Nguyễn Bá Diến, Giám đốc Trung tâm Luật biển và Hàng hải quốc tế, Chủ nhiệm Bộ môn Luật Quốc tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Ths. NCS. Nguyễn Hùng Cường, Giảng viên Bộ môn Luật Quốc tế – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội đồng chủ biên, được Cục Thông tin Đối ngoại và Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) vừa giới thiệu và phát hành ngày 7/8/2012 tại Hà Nội.

PGS. TSNguyễn Bá Diến trả lời phỏng vấn Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. (Ảnh: ĐT)
Các tác giả cuốn sách nêu trên khẳng định, qua các tài liệu lịch sử, địa lý từ xưa đến nay của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây, từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm từ triều đại này đến triều đại khác, Nhà nước Việt Nam đã làm chủ thực sự một cách hòa bình, công khai, liên tục hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của các đội Hoàng Sa do Nhà nước thành lập trên hai quần đảo đó mỗi năm từ 5 đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do Nhà nước giao tự nó đã là một bằng chứng đanh thép về việc Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó. Việc chiếm hữu và khai thác đó của Nhà nước Việt Nam không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác, kể cả Trung Quốc. Điều đó càng chứng tỏ từ lâu, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã là lãnh thổ Việt Nam.

Sự công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa trước 50 quốc gia hội viên thành lập Liên Hợp quốc tại Hội nghị San Francisco năm 1951 chứng tỏ rằng, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được các quốc gia trên thế giới thừa nhận là thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

Chủ biên cuốn sách, PGS. TS Nguyễn Bá Diến cho rằng, “đường lưỡi bò” không thể mang lại cho Trung Quốc quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển nằm phía trong đường này theo quy chế của bất kỳ vùng biển nào, kể cả Vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của Công ước Luật Biển 1982. Một đường vạch được thể hiện một cách hết sức mơ hồ, đứt đoạn, tùy tiện, không có tọa độ cụ thể, phi khoa học, trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về hoạch định biên giới (ranh giới) quốc gia và nằm cách xa lục địa Trung Quốc hàng ngàn cây số không thể đáp ứng theo các quy định của Công ước Luật Biển 1982. Nhiều luật gia, học giả và nhà nghiên cứu nổi tiếng thế giới đều nhận định về yêu sách “đường lưỡi bò” là một yêu sách vô lý, hoàn toàn không có cơ sở khoa học, không có giá trị pháp lý quốc tế và không ai có thể chấp nhận được.

 

PGS. TS Nguyễn Bá Diến: Việt Nam có đầy đủ căn cứ khoa học, lịch sử và pháp lý chứng minh
chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (Ảnh: ĐT)Theo PGS. TS Nguyễn Bá Diến, xét một cách khách quan và toàn diện, dựa trên những căn cứ pháp lý, lịch sử và chính trị, Bức thư ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ có mục đích nhằm ủng hộ Trung Quốc chống lại chính sách bao vây trên biển của Mỹ trong eo biển Đài Loan, đe dọa tới nền an ninh quốc gia của Trung Quốc vào thời kỳ đó, hoàn toàn không chứa đựng bất kỳ sự từ bỏ nào chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Nội dung bức thư là một sự cam kết mang tính ngoại giao, một hình thức thường được các nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ sử dụng để thể hiện sự đoàn kết về mặt tư tưởng với nhau. Từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ tuyên bố hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam cũng như công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trái lại, các chính quyền của Việt Nam từ trước đến nay đều nhất quán thể hiện lập trường khẳng định chủ quyền của Việt Nam cũng như thực hiện việc quản lý liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam có đầy đủ căn cứ khoa học, lịch sử và pháp lý chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo này.

Như vậy, lập luận của phía Trung Quốc là không có căn cứ và giá trị pháp lý, trái với luật pháp quốc tế và quan hệ quốc tế cũng như thực tiễn quan hệ Việt – Trung. Những ai đó mưu toan dùng nội dung bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng để biện minh cho ý đồ xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam sẽ không thể ngụy biện dưới ánh sáng của luật pháp và công luận quốc tế.

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam ở thềm lục địa và các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, theo PGS. TS Nguyễn Bá Diến, Việt Nam cần tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp trên các phương diện, cụ thể như: Nâng cao nhận thức chính trị, xây dựng ý thức làm chủ biển đảo cho mọi tầng lớp nhân dân; bên cạnh các chiến lược quản lý, thăm dò và khai thác thềm lục địa, cần hình thành một hệ thống văn bản pháp luật về thềm lục địa đầy đủ, toàn diện, thống nhất; đồng thời, thành lập cơ quan quản lý chuyên biệt về thềm lục địa. Đầu tư thích đáng về vốn và cơ sở hạ tầng; đào tạo nguồn nhân lực đội ngũ cán bộ, chuyên gia trong các lĩnh vực biển và thềm lục địa. Bên cạnh đó là các biện pháp về chính trị, ngoại giao; hợp tác quốc tế; an ninh – quốc phòng; xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ biển của Việt Nam; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hồ sơ ranh giới ngoài thềm lục địa trình Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp quốc.

Thứ nhất, từ lâu, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự và công khai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi mà các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.

Thứ hai, từ đó đến nay, trong suốt mấy thế kỷ, ít nhất là từ thế kỷ XVII, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thật sự và liên tục chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ ba, Nhà nước Việt Nam luôn luôn bảo vệ tích cực các quyền và danh nghĩa của mình trước mọi mưu đồ và hành động xâm phạm tới chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ tư, chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế cũng như thực tiễn tài phán quốc tế.

Thứ năm, những quy định của Công ước Luật Biển của Liên Hợp quốc đã thiết lập nền tảng pháp lý quốc tế nhằm ghi nhận quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế. Như vậy Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển đã cấp “Sổ đỏ” cho các quốc gia ven biển, trong đó có Việt Nam, đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình mà không ai được quyền xâm phạm.
(Trích cuốn sách “Thềm lục địa trong pháp luật quốc tế”)

Nguồn: nguoicondatme.blogspot.com
Gallery

Hiện đại hóa hải quân để bảo vệ chủ quyền

Quân chủng Hải quân, Quân chủng Phòng không- Không quân và một số cơ quan, binh chủng kỹ thuật khác sẽ được hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.
Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao vừa có văn bản trả lời những chất vấn, kiến nghị của cử tri cả nước gửi tới Chính phủ về vấn đề Biển Đông.

Bác bỏ yêu sách “đường lưỡi bò”
Các câu hỏi của cử tri gửi đến Bộ Ngoại giao đề cập lo lắng trước việc thời gian qua, Trung Quốc nhiều lần gây hấn trên Biển Đông, cắt cáp các tàu thăm dò địa chất, xua đuổi tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam, đưa ra yêu sách về đường lưỡi bò.

Đề nghị Đảng, Quốc hội, Chính phủ đẩy mạnh đấu tranh trên cơ sở luật pháp quốc tế nhằm đảm bảo chủ quyền hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, cử tri các tỉnh Hải Phòng, Đăk Nông, Hà Nam đồng gửi kiến nghị tới nhiều bộ ngành liên quan tăng cường tiềm lực quốc phòng.

Bên cạnh đó, cần định hướng phát triển các ngành kinh tế biển có trách nhiệm cao hơn trong việc đóng góp nâng cao và duy trì tiềm lực cũng như hoạt động của lực lượng quốc phòng – an ninh… để giữ vững an ninh, bảo vệ từng tấc đất, vùng biển, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc.

Trả lời câu hỏi của cử tri, Bộ Ngoại giao khẳng định, nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích trên biển, Việt Nam đã kiên quyết đấu tranh trên thực địa, qua con đường ngoại giao và trên mặt trận dư luận trước các hoạt động vi phạm của nước ngoài.

“Chúng ta đã công bố nhiều tư liệu pháp lý lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” – văn bản của Bộ nêu rõ.

Liên quan các hành vi bắt giữ trái phép, ngược đãi ngư dân hoặc hành động uy hiếp, tịch thu vô cớ ngư cụ, hải sản, nhiên liệu của các tàu cá Việt Nam, Bộ Ngoại giao cho biết đã kiên quyết đấu tranh qua đường ngoại giao và dư luận, yêu cầu chấm dứt những hành động đó; xử lý vấn đề nghề cá phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.

Trong đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ với Trung Quốc, Việt Nam nêu rất thẳng thắn và mạnh mẽ vấn đề này.

Về yêu sách đường lưỡi bò, ngay sau khi Trung Quốc lần đầu tiên chính thức đưa ra bản đồ thể hiện việc này tại Liên hợp quốc (tháng 5/2009), Việt Nam đã gửi công hàm phản đối. Trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc về biên giới lãnh thổ, Việt Nam kiên quyết bác bỏ yêu sách “đường lưỡi bò”.

Bộ cho biết thêm, tại các cuộc hội thảo quốc tế về vấn đề Biển Đông, Việt Nam đã vạch rõ tính phi lý của yêu sách này và nhận được sự đồng tình ủng hộ của đông đảo bạn bè quốc tế. Đến nay, không có bất kỳ nước nào ủng hộ cho yêu sách “đường lưỡi bò”. Indonesia, Philipines cũng có công hàm phản đối gửi Liên hợp quốc. Hầu hết các học giả, nhà nghiên cứu quốc tế đều phê phán mạnh mẽ yêu sách này.

Hiện đại hóa hải quân
Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Bà Rịa – Vũng Tà̀u về tăng cường tiềm lực quốc phòng cho giai đoạn mới, Bộ Kế hoạch – Đầu tư trong trả lời tiếp sức cho Bộ Quốc phòng cho hay, ngân sách đảm bảo cho các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trên biển các năm qua được lãnh đạo Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm chỉ đạo.

Ngân sách hàng năm được bảo đảm thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng an ninh trên biển, đảo do Bộ Quốc phòng quản lý và sử dụng.

Bộ Quốc phòng cho biết, tăng cường tiềm lực quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng, nhà nước và quân đội.

Để bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết đại hội XI của Đảng, thời gian qua, Quân ủy TƯ và Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong toàn quân triển khai toàn diện đồng bộ các biện pháp nhằm tăng cường sức mạnh tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội. Bộ xác định trước tiên xây dựng quân chủng Hải quân, Phòng không- Không quân và một số cơ quan, binh chủng kỹ thuật khác hiện đại.

Bộ Quốc phòng cho biết, thực tế những năm qua, quân chủng Hải quân, quân chủng Phòng không- Không quân, bộ đội Biên phòng và cảnh sát biển nói riêng đã được đầu tư cải tiến, sản xuất, mua sắm nhiều phương tiện, trang thiết bị, vũ khí hiện đại; nâng cấp cơ sở hạ tầng, xây dựng doanh trại cơ bản cho các đơn vị, nhất là các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và những đơn vị đóng quân ở những khu vực điều kiện khó khăn để nâng cao đời sống cho bộ đội, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và biên giới quốc gia.

(theo http://hoangsatruongsa2012.blogspot.com)

Gallery

Công ty Trung Quốc xâm phạm Hoàng Sa

Hai công ty của Trung Quốc đăng ký hoạt động tại cái gọi là thành phố Tam Sa, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tờ China Daily hôm nay cho hay một công ty xây dựng và một công ty du lịch được thành lập trong tháng 8 và 9 để đưa vốn đầu tư và việc kinh doanh vào hoạt động trên địa bàn “Tam Sa”. Đây là một đơn vị hành chính do Trung Quốc lập với tham vọng quản lý cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cùng các vùng nước liên quan, bị Việt Nam kịch liệt phản đối và bác bỏ.
1526117848_hoang_sa1

Một đảo trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ảnh:Denfense update

Hai công ty trên đều có trụ ở ở Hải Nam và hiện hoạt động chủ yếu tại thủ phủ Hải Khẩu.
Giới chức Trung Quốc cho hay đang nhanh chóng xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó có nhà máy xử lý nước thải và hệ thống đường ống dẫn nước trên đảo Phú Lâm, đảo chính trong quần đảo Hoàng Sa. Hiện có khoảng 1.000 cư dân Trung Quốc sống trên đảo này. Họ cũng đang đóng hai con tàu để đi lại giữa các đảo trong quần đảo.
Trước đó Trung Quốc cũng công bố việc xây dựng hệ thống thông tin liên lạc, lập cục cấp điện, mở tuyến du lịch, bầu cử hội đồng nhân dân…
Việt Nam nhiều lần khẳng định chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, lên án những việc làm của Trung Quốc vì vi phạm chủ quyền của Việt Nam và yêu cầu chấm dứt không để tái diễn các hành động tương tự.
Giới quan sát quốc tế nhận định rằng Trung Quốc đang thực hiện chiến lược chiếm dần các đảo trên Biển Đông, trước hết là xây dựng đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa thành một cơ sở cả về quân sự và kinh tế và xã hội, làm bàn đạp nhảy cóc dần xuống phía nam, vươn tới các đảo khác ở Trường Sa.
Sarabjeet Singh Parma, học giả thuộc Viện nghiên cứu Quốc phòng Ấn Độ, nhận xét: “Họ đang tính toán để một khoảnh đất gần 13 km vuông có thể mang cho họ thẩm quyền đối với 2 triệu km vuông vùng biển của các nước khác”.
Gallery

Diễn biến hòa bình không phải là “sự phát triển tất nhiên”

Gần đây, một số diễn đàn trên in-tơ-nét đang truyền bá quan điểm của một tác giả cho rằng “lâu nay trong nước vẫn có cách sử dụng khái niệm diễn biến hòa bình với một ý nghĩa rất tiêu cực”, diễn biến hòa bình là “sự phát triển tất nhiên… Bản thân nó chỉ là một sự vận động chứ không có màu sắc gì cả”; từ đó kêu gọi Ðảng Cộng sản Việt Nam “phải tự diễn biến hòa bình trong nội bộ đảng”! Ðây là sự mập mờ về lý luận, mơ hồ về thực tiễn, từ đó đánh đồng mục đích, nội dung của Nghị quyết Hội nghị T.Ư 4 (khóa XI) Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay với chiến lược mà các thế lực thù địch đang sử dụng để tiến công vào Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Về nguồn gốc và lịch sử của diễn biến hòa bình, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Ý tưởng ban đầu về diễn biến hòa bình do các nhà hoạch định chiến lược phương Tây soạn thảo từ cuối những năm 40 thế kỷ 20, sau được tiếp tục bổ sung; cuối thập kỷ 80 thế kỷ 20, được nâng lên và hoàn chỉnh thành chiến lược. Trong điều kiện mới của so sánh lực lượng trên thế giới, chiến lược diễn biến hòa bình được tiến hành chủ yếu bằng các thủ đoạn phi quân sự, nhằm “chuyển hóa hòa bình” các nước xã hội chủ nghĩa theo tư bản chủ nghĩa. Sau biến động ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu, phương Tây công khai tuyên bố chuyển hướng chiến lược “kiềm chế” sang chiến lược “mở rộng” với hai nội dung cơ bản: “dân chủ hóa về chính trị” và “tự do hóa về kinh tế”. Vấn đề “nhân quyền” và “dân chủ” được coi là vũ khí lợi hại (Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 1, Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, H.1995, tr.673). Qua một lược sử như thế, có thể thấy diễn biến hòa bình là một kế hoạch có chủ thể tổ chức và thực hiện, có mục đích và đối tượng cụ thể; có sự điều chỉnh liên tục nhằm thích ứng với từng giai đoạn lịch sử; đặc biệt, chủ thể của diễn biến hòa bình không hề chú ý tới sự phát triển lành mạnh của các quốc gia mà họ nhằm vào. Nếu cái gọi là “tất nhiên” được vay mượn từ luận điểm “quá trình lịch sử, tự nhiên” mà Các Mác đã chỉ ra, thì đây
là sự gá ghép khiên cưỡng hai khái niệm  có nội hàm rất khác nhau. Diễn biến hòa bình chỉ “tất nhiên” đối với những người đã cố công hoạch định, rồi hơn nửa thế kỷ qua vẫn kiên trì theo đuổi, liên tục thay đổi phương thức, thủ đoạn nhằm phá hoại các nước XHCN về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội,… Vì thế, không thể phủ nhận tác động rất tiêu cực của diễn biến hòa bình.
Nhìn ra thế giới, diễn biến hòa bình không chỉ là câu chuyện liên quan tới Việt Nam, bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Ðông Âu là bằng chứng cụ thể của tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” kết hợp với sự suy sụp về kinh tế, sự suy giảm niềm tin,… đã đẩy tới sự sụp đổ chế độ xã hội ở hàng chục quốc gia. Hiện tại, với Trung Quốc và Nga, theo mục từ diễn biến hòa bình trên Wikipedia thì “Chủ tịch Hồ Cẩm Ðào trong tuyên bố đầu năm 2012 của mình nhắc nhở các thành viên trong Ðảng Cộng sản Trung Quốc cẩn thận với diễn biến hòa bình, kêu gọi các biện pháp tích cực chống lại “sự thâm nhiễm về văn hóa và tư tưởng của các thế lực thù địch”… Theo báo Pravda của Nga, Quỹ dân chủ Mỹ (NED) có mặt trên khắp đất nước Nga, thâm nhập vào diễn biến chính trị ở Nga hiện nay. Tổ chức này cũng tài trợ cho nhiều tổ chức thanh niên và các buổi thảo luận dưới nhiều hình thức khác nhau với mục đích “bồi dưỡng thế hệ lãnh đạo mới cho đất nước Nga”… Chính phủ Nga cảnh báo việc Mỹ tiếp tục tài trợ cho các tổ chức này tại Nga đang gây ảnh hưởng tới quan hệ giữa hai bên, nhất là Mỹ đang áp dụng sách lược cứng rắn trên các vấn đề liên quan đến lợi ích của Nga như vấn đề I-ran và Xy-ri. Thứ trưởng Ngoại giao Nga Xéc-gây Ry-a-cốp nói với hãng thông tấn Interfax: “Hành động này đến mức trở thành một vấn đề trong quan hệ giữa hai nước. Chúng tôi thực sự quan ngại về việc Oa-sinh-tơn tài trợ cho các nhóm và phong trào nhất định tại Nga”.
Gần đây hơn, các cơ quan truyền thông BBC, VOA, RFI,… đều đưa tin về sự kiện hôm 19-9-2012 Chính phủ Nga đã ra hạn tới ngày 1-10-2012 Văn phòng của USAID (Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ) tại Nga phải đình chỉ hoạt động và rời khỏi nước này. Bộ Ngoại giao Nga cho biết: “Quyết định được đưa ra vì việc làm của những người chịu trách nhiệm của cơ quan trên tại đất nước chúng tôi không phù hợp chút nào với mục tiêu đã tuyên bố, là tạo điều kiện phát triển hợp tác nhân đạo song phương. Ðúng ra đây là những mưu toan gây ảnh hưởng lên các tiến trình chính trị thông qua việc tài trợ. Xã hội công dân Nga đã đủ chín chắn và không cần đến các mệnh lệnh từ bên ngoài”. Bài USAID đóng văn phòng tại Nga trên web của BBC ngày 19-9 viết: “USAID đã làm việc tại Nga trong hai thập niên qua, chi gần 3 tỷ USD cho các chương trình viện trợ và dân chủ… Nhà chức trách Nga ngày càng nghi ngờ các tổ chức phi chính phủ (NGOs), mà họ tin rằng đã dùng tài trợ nước ngoài để kích động bất ổn chính trị… Ðầu năm nay, Tổng thống Nga V.Pu-tin cáo buộc các cuộc biểu tình phản đối việc ông đắc cử được giật dây bởi các tổ chức phi chính phủ được Mỹ cấp tiền… Hoa Kỳ bắt đầu đưa hoạt động của các tổ chức NGO ở Nga sau khi Liên Xô tan rã và chi khoảng 2,7 tỷ USD cho một loạt các chương trình nhân quyền, xã hội dân sự, y tế và môi trường”. Còn bài Các tổ chức dân chủ Nga sẽ gặp khó khăn sau khi USAID rời khỏi Nga đăng trên web của VOA thì viết: “Trong thập niên qua, số tiền viện trợ giảm sút, nhưng càng ngày càng đổ vào các tổ chức nhân quyền và củng cố xã hội dân sự tại Nga. Vào năm 1995, USAID tiêu khoảng 257 triệu USD tại Nga so với khoảng 50 triệu USD trong năm nay… Phóng viên BBC tại Mát-xcơ-va Steve Rosenberg nói rằng, việc USAID cam kết xây dựng một xã hội dân sự được giới chức Nga xem là nỗ lực để châm ngòi cho một cuộc cách mạng”.
Các sự kiện trên, cùng các bằng cứ mà báo chí trên thế giới công bố đã chỉ rõ vai trò của các thế lực bên ngoài (qua tài trợ, mạng xã hội, truyền thông “đen”…) đã tác động như thế nào đến “cách mạng da cam” ở U-crai-na, “cách mạng hoa nhài” ở Trung Ðông và Bắc Phi,… Ðiều này khiến chúng ta phải suy nghĩ một cách chín chắn, để nhận diện và đi tìm căn nguyên. Và nếu không chú ý tới điều V.I Lê-nin đã khẳng định “hiện tượng là có tính bản chất” sẽ không thể tạo lập khả năng tổng hợp, phân tích các hiện tượng liên quan tới diễn biến hòa bình để xác định bản chất của nó; sẽ không thấy diễn biến hòa bình là nguy cơ có thật, là một thực tế phải đối diện, không phải là “ngoáo ộp” được dựng lên để dậm dọa. Diễn biến hòa bình có thể đẩy tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, song “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn có thể nảy sinh từ hoạt động của các chủ thể xã hội, đặc biệt là tự tình trạng “tự tha hóa” của đội ngũ lãnh đạo các cấp. Về vấn đề này, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay chỉ rõ tình trạng: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…” đã nảy sinh từ một số nguyên nhân, như: “Cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Ðảng, trước nhân dân. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Ðảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ”, và các nguyên nhân ấy “sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Ðảng và sự tồn vong của chế độ”.
Về nguyên tắc, sự phát triển bền vững, lành mạnh của một quốc gia trước hết phụ thuộc vào định hướng phát triển, năng lực tự điều chỉnh và sức mạnh vật chất – tinh thần nội tại của nó. Tuy nhiên, khi mà sự hợp tác quốc tế có thể bổ sung một số điều kiện giúp quá trình phát triển diễn ra nhanh chóng, hiệu quả hơn, thì các quốc gia cũng cần tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ từ bên ngoài. Nhưng xét đến cùng, sự phát triển của mỗi quốc gia luôn phụ thuộc vào trí tuệ, sự tỉnh táo, năng lực của chủ thể lãnh đạo, cùng khả năng khơi dậy và huy động sức mạnh của toàn dân tộc vào quá trình phát triển. Lịch sử đã chứng minh, nếu không có trí tuệ sáng suốt và sáng tạo, không có nội lực tinh thần mạnh mẽ và thuyết phục, nếu không có bản lĩnh và khả năng tự điều chỉnh linh hoạt, nếu không tập hợp và xây dựng được khối đoàn kết toàn dân… Ðảng Cộng sản Việt Nam đã không thể lãnh đạo dân tộc Việt Nam làm nên Cách mạng Tháng Tám, vượt qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, vừa hàn gắn vết thương chiến tranh và vừa đương đầu với các khó khăn của thời kỳ “cấm vận”, sau đó bước vào thời kỳ Ðổi mới. Những thành tựu to lớn đó là kết quả trực tiếp của trí tuệ, ý chí, bản lĩnh và cả mồ hôi, xương máu, hy sinh của nhiều thế hệ lãnh đạo Ðảng cùng hàng triệu đảng viên và các tầng lớp nhân dân; trực tiếp khẳng định vai trò chủ thể tự giác của lực lượng lãnh đạo cách mạng cùng phong trào cách mạng rộng rãi, là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ngày nay, trước rất nhiều khó khăn của đất nước, trước một số vấn đề xã hội cần phải giải quyết, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đã thể hiện quyết tâm của Ðảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng và chỉnh đốn Ðảng để tiếp tục tổ chức, lãnh đạo sự nghiệp đổi mới. Ðây là kết quả của quá trình nhận thức sâu sắc đối với thực tiễn và đánh giá chính mình để tự hoàn thiện, không cùng bản chất với cái gọi là “tự diễn biến hòa bình trong nội bộ đảng”. Trong những ngày này, việc triển khai Nghị quyết T.Ư 4 một cách cụ thể, sâu sát, rộng khắp,… trong toàn thể cán bộ, đảng viên từ trung ương tới địa phương đã không chỉ củng cố niềm tin của nhân dân cả nước mà dư luận thế giới cũng chăm chú theo dõi. Bởi, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Việc thực hiện Nghị quyết là làm cho Ðảng mạnh hơn lên, để quan hệ giữa Ðảng với dân ngày càng gắn bó máu thịt”. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để các thế lực thù địch khai thác, xuyên tạc, reo rắc hoài nghi, kích động nhằm tác động tiêu cực tới uy tín của Ðảng. Vì thế, nếu thật sự có tinh thần phấn đấu vì tương lai đất nước, hơn lúc nào hết mỗi công dân cần tỉnh táo, có ý thức trách nhiệm trong lao động để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoặc trước khi có ý kiến đóng góp với sự nghiệp chung.
Gallery

Các chiêu bài tung tin xuyên tạc – bịa đặt

Bất cứ kẻ nào có ý định xuyên tạc và xâm chiếm chủ quyền của Tổ quốc đều phải bị trừng trị!

Các trang mạng của thế lực phản động thường mạo xưng là của “dân oan”, của những người đòi dân chủ, chống tham nhũng, v.v… nhưng thực chất chúng thực hiện các âm mưu thâm độc để chống Đảng, chống Nhà nước và nhân dân ta.
Tiến bộ của khoa học thông tin, theo đó là công nghệ và những phương tiện thông tin ngày càng tiên tiến, giá rẻ đặc biệt là từ khi internet ra đời đã tạo ra một cuộc cách mạng thông tin làm thay đổi cả thế giới. Internet có nhiều mặt tiến bộ khiến không một quốc gia nào muốn hội nhập với thế giới lại có thể từ chối nó.
Tất cả lãnh đạo Việt Nam luôn luôn thực hiện chính sách nhất quán của Đảng và nhà nước.
Nhưng bên cạnh mặt tích cực, internet cũng mang trong nó, về bản chất, rất nhiều mặt tiêu cực. Tham gia mạng internet, những kẻ xấu có thể ăn cắp, lừa đảo qua hệ thống ngân hàng, thương mại điện tử hàng tỷ USD ở những nơi cách thủ phạm hàng nghìn km. Có thể xâm nhập vào các kho dữ liệu điện tử, ăn cắp những bí mật an ninh-quốc phòng tuyệt mật, điều mà trước đây những tình báo sành sỏi nhất cũng bó tay, việc công bố hàng chục vạn trang tài liệu mật đánh cắp được trên mạng Wikileaks thời gian qua là một thí dụ. Internet còn như một cái chợ thông tin tự phát, nhiều kẻ xấu, kẻ bệnh hoạn, gây rối có thể bày bán ở đây rất nhiều thông tin dâm ô, bạo lực, băng hoại đạo đức… mà không bị kiểm soát về danh tính, xuất xứ. Độ phát tán những thông tin xấu này cũng gần như không phụ thuộc vào không gian, thời gian, biên giới hành chính, v.v…
Tình hình kinh tế xã hội chuyển biến tích cực nhưng bị các trang mạng, blog xấu bóp méo, bôi đen
Theo dự báo, với sự tiến bộ đáng kinh ngạc của công nghệ thông tin, sắp tới người ta có thể xem TV, nghe radio, xem internet bằng những “tờ giấy điện tử”, ở bất kỳ đâu với giá cực rẻ. Ngoài lợi thế có thể giấu kín danh tính (nặc danh), xuất xứ, internet còn có một lợi thế rất quan trọng khác đó là có thể giao lưu tức thì một cách dễ dàng với hàng triệu bạn đọc qua chức năng phản hồi, tham gia thảo luận… của nó. Chỉ cần một thông tin bịa đặt, xuyên tạc hoặc một lời kêu gọi, triệu tập nào đó được phát tán trên các blog, các mạng xã hội (trên thế giới hiện có hàng ngàn mạng xã hội có tiếng, hàng trăm triệu người có blog), lập tức nó tác động đến hàng triệu người, điều mà không một báo chí truyền thống nào có thể làm được.
Bất cứ một kẻ thù nào có ý định xuyên tạc và xâm chiếm chủ quyền của Tổ quốc đều phải bị trừng trị.
Tất nhiên, các thế lực xấu, các lực lượng thù địch, những cá nhân bất hảo về chính trị không bỏ qua những hiệu ứng tiêu cực (với họ là những lợi thế) này để thực hiện những mưu đồ thâm độc, điều mà trước đây họ không thể hoặc khó khăn lắm mới thực hiện được một phần bằng báo in, truyền đơn, đài phát thanh để phục vụ cho chiến lược diễn biến hòa bình hoặc thúc đẩy quá trình tự diễn biến ở những quốc gia có chế độ chính trị họ không ưa thích. Một thủ đoạn đang rộ lên hiện nay trong việc sử dụng internet trong lĩnh vực này là phao tin đồn nhảm, chia rẽ nội bộ, làm suy yếu khối đoàn kết trong nội bộ Đảng, giữa Đảng với dân, giữa nội bộ nhân dân.
Diễn biến hòa bình và các thủ đoạn thúc đẩy quá trình tự diễn biến là bằng các biện pháp tổng hợp chính trị-xã hội, an ninh-quốc phòng, kinh tế, ngoại giao, tư tưởng, văn hóa… nhằm làm suy yếu chế độ chính trị của một quốc gia, khiến cho chế độ chính trị đó lung lay, mất lòng tin và sự ủng hộ của quần chúng, nội bộ chia rẽ, bè cánh, các cá nhân có chức có quyền thoái hóa về lý tưởng, đạo đức, tan rã ý chí chiến đấu… Khi cơ hội đã chín muồi, chúng sẽ kích động quần chúng lật đổ chế độ đó mà không cần chiến tranh, không cần ra mặt can thiệp. Sự tan rã từng mảng lớn các nước XHCN ở Đông Âu, sự tan rã nhanh chóng của Liên Xô và rất nhiều cuộc lật đổ được gọi bằng cái tên hoa mỹ là cách mạng nhung, cách mạng đường phố, cách mạng sắc màu, cách mạng hoa tuy líp, hoa cẩm chướng, hoa nhài… đều thuộc loại này. Cần lưu ý là thông tin nói chung, các mạng xã hội nói riêng trong đó có cả Wikileaks đã đóng vai trò rất quan trọng trong các cuộc lật đổ ở Bắc Phi (Ai Cập, Libya, Tunisia, Yemen) dưới cái tên chung do họ đặt là “Mùa xuân Ả rập” và ở Syria, Trung Đông hiện nay.
Thực tiễn sinh động của sự nghiệp cách mạng luôn bị các thế lực thù địch xuyên tạc, bịa đặt nhằm lung lạc lòng tin của nhân dân, làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc

Với thế giới thì như vậy, nhưng với Việt Nam thì sao?

Dĩ nhiên, Việt Nam và một số nước khác do Đảng Cộng sản cầm quyền, kiên trì đi theo con đường XHCN là những chiếc gai đối với họ. Nhổ những chiếc gai này đi, tức lật đổ chế độ cộng sản ở những nước này không chỉ là mục tiêu hành động cho lý tưởng chống cộng mà với nhiều người nó còn là sự rửa hận, là trả thù cá nhân, những điều họ đã không làm được suốt trong 30 làm tay sai cho ngoại bang, tiến hành cuộc chiến tranh diệt cộng tàn ác, đẫm máu. Họ hành động ráo riết trên mọi lĩnh vực, lĩnh vực nào cũng đầy rẫy những âm mưu thâm độc và nguy hiểm nhưng lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là một trong những lĩnh vực được họ quan tâm nhất.
Thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt có nhiều, chẳng hạn như khoét sâu vào những yếu kém, khuyết điểm của chế độ ta, gây oán thán, ly tán lòng dân; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; hạ thấp và gieo rắc nghi ngờ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chia rẽ khối đoàn kết và tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, nhất là các nước láng giềng; xuyên tạc và phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng, khoét sâu mâu thuẫn để chia rẽ, cô lập ta như với trường hợp Biển Đông gần đây, từng bước một tách dân ra khỏi Đảng và chính quyền, biến họ thành lực lượng đối lập với Đảng và chính quyền vv…Theo báo Quân đội nhân dân, cơ quan an ninh đã thống kê được hiện có 400 trang mạng trong đó có 300 trang mạng chống phá Việt Nam ráo riết, ngoài ra còn có 380 tờ báo, tạp chí, 60 đài phát thanh phát tiếng Việt, nhiều hãng thông tấn… ngày đêm chĩa vào Việt Nam.

Các chiêu thức quen thuộc của các trang mạng này là:

1) Các trang web của các tổ chức phản động mạo xưng là của các dân oan, những người đòi dân chủ, đòi tự do thông tin, những người chống tham nhũng chẳng hạn, mà máy chủ đặt tại nước ngoài. Các trang này thường dùng mánh khóe hư hư, thực thực, xuyên tạc, bịa đặt với mục đích chống phá.
2) Mạo danh trang chuyên đề (môi trường, kinh tế, văn hóa) xa lánh chính trị nhưng thực chất là những trang thông tin, bình luận, hướng dẫn, suy diễn thiên lệch về một vấn đề nào đó để dẫn tới chống phá về chính trị.
3) Khai thác triệt để, kích động một số trang mạng của những trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo, nhà nghiên cứu… để thực hiện âm mưu chia rẽ, ly tán nội bộ.
Tuy có những thuận lợi về kỹ thuật và mặc dù đã sử dụng nhiều cách nhưng các thế lực này đều gặp trở ngại lớn là sự thật lịch sử và lòng tin của dân chúng không dễ tác động. Chúng đã từng mở đợt tuyên truyền dài hơi hòng hạ uy tín Hồ Chí Minh, ra hẳn những bộ phim, những clip được giàn dựng công phu để bôi nhọ, hạ uy tín Người. Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng cũng tìm cách xuyên tạc từ bản chất đến nhiều chiến dịch, trận đánh cụ thể. Chúng cũng đã từng lợi dụng sự căng thẳng trên Biển Đông để chia rẽ, xuyên tạc quan hệ quốc tế giữa ta và Trung Quốc, lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để ly gián Chính phủ với nhân dân. Nhưng những âm mưu thâm độc đó đều lần lượt thất bại, không đạt được kết quả như chúng mong muốn. Lần này, vẫn những thủ đoạn cũ đó, chúng lợi dụng lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang đẩy mạnh triển khai Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay” và Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI), sau Bộ Chính trị và Ban Bí thư, các Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Đảng ủy Ban và Ngành thuộc Trung ương đang tiến hành kiểm điểm, phê bình và tự phê bình, quần chúng đang nghiêm túc và phấn khởi theo dõi kết quả để tung ra nhiều thông tin nhạy cảm, rất khó kiểm chứng nhằm lung lạc dư luận.
Lực lượng cảnh sát biển là chỗ dựa vững chắc cho ngư dân.
Những thông tin này liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế cả vi mô và vĩ mô, nhiều vấn đề về đường lối như vấn đề các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, ngân hàng, tài chính, nợ công, chính sách kinh doanh đa ngành, những thất thoát và trách nhiệm của một số người đối với một số vụ tham nhũng hoặc bức xúc điển hình để chĩa mũi nhọn vào tập thể và một số đồng chí lãnh đạo có trách nhiệm cao của Đảng và Nhà nước. Chúng còn ra sức tung tin bịa đặt, gây nghi ngờ về sự chia rẽ, phe phái, xung đột trong nội bộ Đảng, Nhà nước, Quốc hội, quan hệ giữa một số cán bộ cấp cao v.v… khiến người dân rất khó tự mình phân biệt đúng sai, tụ tập bàn tán, nghi hoặc phải trái.
Những âm mưu đó trước hết nhằm xuyên tạc bản chất của cuộc sinh hoạt chính trị sâu rộng thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 và đợt “học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thực chất là cuộc phê bình, tự phê bình làm trong sạch, nâng cao sức chiến đấu của Đảng, biến một chủ trương trong sáng, vì nhân dân thành một cuộc tranh giành, đấu đá trong nội bộ. Thứ 2, nó là một âm mưu mới, trong chiến lược diễn biến hòa bình, lợi dụng nền kinh tế thế giới và trong nước không ổn định, lợi dụng những khó khăn hiện nay để khoét sâu hơn nữa mâu thuẫn trong hệ thống chính trị và nhân dân, gây bất ổn chính trị, từ đó mưu toan rập theo những bài bản can thiệp của phương Tây vào thế giới Ả rập hiện nay trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam…
Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam là điều không cần tranh cãi
Âm mưu tung tin bịa đặt, hạ thấp uy tín cán bộ, chia rẽ nội bộ là hết sức nguy hiểm nhưng đó là một thủ đoạn mới trong một chiến lược cũ, ra đời sau thất bại của nhiều thủ đoạn trước nên tự thân đã mang tính yếu thế, bị động. Điều quan trọng hơn, nó là tin bịa đặt, không đúng sự thật nên thiếu sức thuyết phục khi bị vạch trần. Để làm thất bại những âm mưu này, một mặt phải tiến hành các biện pháp hành chính kiên quyết để bảo vệ chủ quyền thông tin của đất nước (như chỉ thị về việc điều tra xử lý nghiêm việc đăng tải thông tin chống Đảng và Nhà nước của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vừa ban hành). Mặt khác, lâu dài và cơ bản, đó là tăng cường thông tin, tuyên truyền hơn nữa để toàn dân cảnh giác trước những âm mưu xấu, nâng cao nhận thức chính trị và thị hiếu lành mạnh trong việc tiếp nhận, xử lý thông tin trên internet để mạng thông tin toàn cầu này tiếp tục phát triển, phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin, hưởng thụ văn hóa của nhân dân và sự nghiệp phát triển, hội nhập của đất nước.

Mây thẻ

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.